Monday, February 25, 2013

"tàu lặn VN có thể tiến công lục địa"

tu van seo website,Internet marketing trend

 6 tàu lặn trang bị hệ thống hoả tiễn Club-S với các hoả tiễn tiến công mặt đất sẽ cho phép hạm đội Việt Nam giải quyết các nhiệm vụ kìm giữ chiến lược đối với đối phương tiềm ẩn, còn hệ thống hoả tiễn Bastion-P cho phép tổ chức tuyến phòng thủ rộng 2000 km...

tiên phong trích giới thiệu bài viết của Chuyên gia về hải quân Yu.V. Vedernikov đăng trên trang của Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Liên bang Nga. Ông Vedernikov đánh giá Việt Nam có vị trí địa chính trị quan yếu nhưng về truyền thống, Việt Nam chưa bao giờ được coi là cường quốc hải quân. Tuy nhiên, cùng với những biển đổi địa-chính trị của thế giới kể từ những năm 1990  và sự tái cấu trúc chính trị không gian thế giới đã làm gay gắt vấn đề tranh chấp bờ cõi ở Biển Đông mà Việt Nam là nước có liên can.

Điều này đã đặt Việt Nam trước thách thức phải cấp thiết hiện đại hóa lực lượng hải quân để bảo vệ chủ quyền bờ cõi cũng như tạo thế cân bằng nhằm duy trì môi trường hòa bình để phát triển kinh tế. Verdenikov điểm lại các hiệp đồng mua sắm, hiện đại hóa lực lượng hải quân Việt Nam thời gian qua, đánh giá các điểm yếu điểm mạnh của các loại trang thiết bị hiện có cũng như sắp trang bị và nêu rõ đỉnh điểm huy hoàng của việc hiện đại hóa Hải quân Việt Nam sẽ là việc xây dựng lực lượng tàu ngầm.

Theo Vedernikov, về hình thức Việt Nam bắt tay vào xây dựng binh chủng tàu ngầm từ năm 1997 khi mua sắm 2 tàu ngầm siêu nhỏ của Bắc Triều Tiên với năng lực đấu tranh đáng ngờ vì chúng không có ngư lôi và có thời gian lặn ngắn. Các tàu ngầm siêu nhỏ này chỉ có khả năng thực hiện các nhiệm vụ do thám-phá hoại hạn chế trên một lãnh hải hạn chế, chẳng hạn như vịnh Bắc Bộ.

thực tại, Việt Nam bước vào xây dựng lực lượng tàu ngầm vào năm 2009 khi công bố ý định mua 6 tàu ngầm điện-diesel lớp Projekt 636 của Nga. Về bản tính, lớp Projekt 636 là sự hiện đại hóa sâu loại tàu ngầm Kilo vốn “phổ quát khắp thế giới. Theo các nhà thiết kế, tàu ngầm hiện đại hóa có tốc độ chạy ngầm cao hơn nhiều (đến 20 hải lý/h) do lượng giãn nước chỉ tăng nhẹ, thời gian lặn ngầm cũng tăng lên, độ ồn giảm đi và trang bị vô tuyến điện tử được cải tiến.

Điểm nổi trội của lớp Projekt 636 là sự hiện diện của hệ thống tên lửa Club-S mà tùy thuộc vào cấu hình có khả năng diệt mục tiêu mặt đất (tên lửa 3M-14E) và mục tiêu mặt nước (tên lửa 3M-54E) ở cự ly 220-300 km. dù rằng báo chí Nga đưa tin phải trong năm 2013, Nga mới giao cho Việt Nam 2 tàu ngầm lớp Kilo trước hết, tuy nhiên Vedernikov lại quả quyết rằng tàu ngầm điện-diesel trước hết đã được đưa vào biên chế hạm đội Việt Nam vào mùa thu năm 2012 (?), còn tàu rốt cục dự kiến được đưa vào trang bị vào năm 2016.

Cùng với đó, Việt Nam cũng đã công bố việc xây dựng một căn cứ tàu ngầm. Và dù rằng vị trí xây dựng căn cứ không được tiết lộ cho báo chí công khai, nhưng các chuyên gia Nga cho rằng, đó sẽ là Cam Ranh như một điểm cách đều các vùng bờ cõi và lãnh hải phía bắc, phía đông và phía nam.

Trong số các khía cạnh khác của hoạt động hiện đại hóa Hải quân Việt Nam cần nói đến việc mua sắm vào năm 2011, hai hệ thống tên lửa bờ biển cơ động Bastion-P, mỗi hệ thống được trang bị các tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont có tầm bắn đến 300 km. Đến năm 2015, dự báo sẽ có thêm một số hệ tên lửa bờ biển cơ động loại này được đưa vào trang bị.

Để khái quát những điều bộc lộ ở trên, Vedernikov kết luận rằng, hiện tại, việc hiện đại hóa Hải quân Việt Nam đang được thực hiện theo hướng mở rộng tiềm lực tấn công, việc đổi mới các lực lượng và dụng cụ của hạm đội chỉ đi theo hướng này.

thí dụ, việc đưa vào biên chế hạm đội Việt Nam 6 tàu ngầm trang bị hệ thống tên lửa Club-S với các tên lửa có khả năng diệt mục tiêu mặt đất, sẽ cho phép hạm đội Việt Nam giải quyết các nhiệm vụ khiên chế chiến lược đối với đối phương tiềm tàng nhờ có khả năng tấn công bờ cõi đối phương.

Biên chế mai sau của các tàu chiến mặt nước sẽ cho phép bảo đảm sự hiện diện thẳng của 2-3 tàu chiến mặt nước tại lãnh hải tranh chấp Trường Sa, trong trường hợp khủng hoảng leo thang thì thành lập lực lượng dự bị để triển khai trên 2-3 hướng tác chiến.

Biên chế mai sau của lực lượng tàu ngầm sẽ cho phép bảo đảm sự hiện diện đồng thời tại các vị trí đấu tranh của 3-4 tàu ngầm. Việc trang bị tên lửa chống hạm cho các tàu ngầm này giúp tăng cường sức mạnh tiến công của các lực lượng tàu mặt nước. Không nên bỏ qua cả khả năng rải lôi ngăn chặn của các tàu ngầm, cũng như khả năng tiến hành rải lôi bí ẩn và có chọn lọc các lãnh hải của đối phương tiềm tàng.

Sự hiện diện của các tàu ngầm có độ ồn thấp làm tăng mạnh tiềm lực chống ngầm của hạm đội Việt Nam. Điều không phải nghi là khả năng của các lực lượng tàu nổi và tàu ngầm mai sau của Việt Nam gây áp lực lên các tuyến đường giao thông hàng hải của đối phương tiềm tàng tại các eo biển chiến lược của Đông Nam Á. Với đường bờ biển trải dài 3260 km của Việt Nam, việc tụ họp các hệ thống tên lửa bờ biển cơ động cho phép tổ chức một tiền duyên phòng thủ rộng 2000 km.

Sau khi nêu bật một loạt những sự phát triển về chất của hải quân Việt Nam thời gian qua, ông Vedernikov cũng phân tích, chỉ ra những điểm còn hạn chế của lực lượng này như vấn dự phòng không bờ cõi, phòng không cho các chiến hạm, cho các vị trí trú đóng của hạm đội và hạ tầng hải quân. Điểm yếu hiển nhiên khác là phòng ngự chống thủy lôi cho các lãnh hải quốc gia với chỉ 6 tàu quét lôi do Liên Xô đóng và được trang bị các dụng cụ quét lôi của “thời đại đó”.

Hải quân Việt Nam không có các dụng cụ cơ động lực lượng đổ bộ đường biển như một nguyên tố tăng cường cho các lực lượng đồn trú ở quần đảo Trường Sa. Chưa có các dụng cụ do thám và chỉ thị mục tiêu hướng sâu vào Biển Đông. Ngoài ra, Vedernikov mong hải quân Việt Nam còn thiếu vắng thực tại kinh nghiệm đấu tranh và các dụng cụ truyền tin và chỉ huy, kinh nghiệm tổ chức hợp đồng cần thiết giữa Hải quân, Không quân và Lục quân.

Theo Vedernikov, dù sao thì cũng không có ai nghi quyền chủ quyền của Việt Nam trong việc phát triển lực lượng hải quân của mình như một thành tố của nền quốc phòng.

Vị chuyên gia này cũng cảnh báo về việc các nước tại lãnh hải này sử dụng chưa đầy đủ tiềm năng ngoại giao để giải quyết hòa bình các vấn đề ở Biển Đông, sự tích trữ hiểm các vấn đề này và việc các quốc gia liên can không có được sự yên tâm nên theo đã đuổi nguyên tắc “Si vis pacem, para bellum” (Muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh).


 

No comments:

Post a Comment